Nguyên nhân và triệu chứng của suy tuyến thượng thận mạn (Bệnh Addison)

Thượng thận
Suy tuyến thượng thận mạn là tình trạng giảm hormon glucocorticoid hoặc mineralocorticoid hoặc giảm cả hai, do nhiều nguyên nhân gây ra. Bệnh xảy ra từ từ trong thời gian dài mới bộc lộ triệu chứng .

1. Nguyên nhân suy tuyến thượng thận mạn

1.1. Nguyên nhân do suy tuyến thượng thận tiên phát (tổn thương tại tuyến thượng thận)

  • Suy thượng thận tiên phát do nguyên nhân tự miễn: Gây phá huỷ tổ chức tế bào ở vỏ thượng thận và một số các cơ quan khác của người bệnh.
  • Lao thượng thận: Chủ yếu thường gặp thập kỷ 20 – 30, ở các nước chậm phát triển. Ngày nay hiếm gặp suy tuyến thượng thận có nguyên nhân do lao.
  • Phá huỷ tuyến thượng thận: Cắt bỏ tuyến thượng thận hai bên trong điều trị bệnh Cushing hoặc dùng thuốc Mitotan (op’DDD) trong điều trị ung thư thượng thận.
  • Các nguyên nhân hiếm gặp khác:
    • Nhiễm nấm, nhiễm HIV, giang mai gây hoại tử tuyến thượng thận.
    • Xuất huyết tuyến thượng thận do rối loạn đông máu, điều trị bằng thuốc chống đông, nhồi máu tuyến thượng thận hai bên, viêm tắc động mạch, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm khuẩn…
    • Các bệnh thâm nhiễm xâm lấn tại tuyến thượng thận như: nhiễm sắt, sarcoidose, ung thư di căn…
    • Thoái triển tuyến thượng thận bẩm sinh, loạn dưỡng chất trắng ở tuyến thượng thận (hiếm gặp).
    • Rối loạn gen.

1.2. Nguyên nhân do suy tuyến thượng thận thứ phát (tổn thương ở tuyến trung ương)

  • Sử dụng hormon glucocorticoid ngoại sinh kéo dài.
  • U tuyến yên hoặc u vùng dưới đồi: U tuyến yên, u sọ hầu, nang rathke, tổn thương cuống yên.
  • Chấn thương sọ.
  • Viêm tuyến yên lympho.
  • Bất thường tuyến yên do đột biến gen.
  • Nhiễm khuẩn: Lao, di căn ung thư, sarcoidosis thần kinh.
  • Nhồi máu não, chảy máu não: Bệnh Sheehan, phình mạch.
  • Thiếu hụt hormone ACTH đơn độc.
  • Thiếu hụt globulin gắn cortisol có tính chất gia đình.
Khám mắt
Bệnh nhân cần được thăm khám để chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh của mình

2. Triệu chứng của suy tuyến thượng thận mạn

Bệnh suy tuyến thượng thận mạn thường xảy ra từ từ trong thời gian dài mới bộc lộ triệu chứng, vì vậy bệnh thường được chẩn đoán muộn. Đến khi 90% vỏ thượng thận bị phá huỷ thì các triệu chứng mới bộc lộ rõ. Đặc biệt khi có xuất hiện các yếu tố thuận lợi như: stress, nhiễm trùng, phẫu thuật, chấn thương, sẽ xuất hiện cơn suy tuyến thượng thận cấp tính.

  • Mệt mỏi là triệu chứng rất thường gặp và thường xuất hiện sớm nhưng dễ bị bỏ qua, mệt về thể xác, tinh thần và chuyện sinh dục. Mệt thường xuất hiện lúc mới ngủ dậy, buổi sáng ít mệt hơn buổi chiều. Mệt tăng dần theo tỷ lệ gắng sức, có khi người bệnh không đi lại được. Mệt mỏi dẫn đến chậm chạp, vô cảm và trầm cảm. Nữ giới sẽ có triệu chứng lãnh cảm, mất kinh do suy kiệt hơn là do suy chức năng buồng trứng, bị rụng lông do giảm tiết androgen. Nam giới bị suy sinh dục chiếm 4 -17%.
  • Gầy sút từ từ (2 – 10kg) do mất nước kèm theo suy giảm chức năng dạ dày ruột, biếng ăn, ăn kém.
  • Rối loạn tiêu hoá: Đau bụng không khu trú có thể nhầm với bệnh lý ngoại khoa cấp tính. Buồn nôn, nôn, tiêu chảy làm bệnh tình nặng lên. Các rối loạn tiêu hoá do rối loạn nước, điện giải, bài tiết dịch vị giảm.
Mệt mỏi, mất thăng bằng
Mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa là những triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân suy tuyến thượng thận mạn
  • Sạm da niêm: sạm da màu nâu đồng điển hình, sạm da ở vùng da hở (tiếp xúc với ánh sáng mặt trời), vùng da thường xuyên cọ xát, vùng da có sẹo mới. Cụ thể ở nếp gấp bàn tay, bàn chân, đầu gối, ngón chân, khớp khuỷu tay có màu nâu hoặc đen. Đầu vú và da niêm ở bộ phận sinh dục bị thâm đen. Má, lợi, sàn miệng và mặt trong má có những đốm màu đen.
  • Hạ huyết áp rất thường gặp, chiếm 90% trường hợp, phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh và mức độ tổn thương thượng thận. Có thể bị tụt huyết áp tư thế. Mạch yếu, huyết áp kẹt, sốc truỵ mạch. Tim của người bệnh thường nhỏ hơn bình thường.
  • Hạ đường huyết thường gặp ở trẻ em. Các triệu chứng hạ đường huyết thường gặp khi người bệnh bỏ bữa hoặc ăn quá bữa, bị sốt, nhiễm trùng hoặc khi nôn ói. Suy thượng thận mạn do nguyên nhân thứ phát thường gặp triệu chứng hạ đường huyết hơn suy thượng thận mạn do nguyên nhân nguyên phát.
  • Triệu chứng tâm thần kinh: bồn chồn, lãnh đạm hoặc lú lẫn, không tập trung suy nghĩ, xen kẽ giai đoạn buồn ngủ, lơ mơ, xen kích thích thần kinh hiếm gặp.
  • Đau khớp, đau cơ, chuột rút cũng có thể gặp.

Lưu ý các yếu tố có thể gây mất bù của bệnh suy thượng thận: tự ý ngừng điều trị. Chế độ ăn ít muối, gắng sức nhiều, nôn ói, đi ngoài, đổ nhiều mồ hôi dẫn đến mất muối, nhiễm trùng, chấn thương, phẫu thuật. Dùng thuốc lợi tiểu, thuốc an thần, thuốc cản quang. Phụ nữ có thai.

Biến chứng của suy tuyến thượng thận mạn tính

Đau bụng
Tuyến thượng thận là một cơ quan nội tiết, tham gia vào quá trình chuyển hóa năng lượng của các tế bào trong cơ thể. Bên cạnh đó, các hormone của tuyến còn hỗ trợ một phần trong việc ổn định huyết động, giữ cân bằng nội môi và giúp cơ thể chống đỡ với stress. Khi bị suy tuyến thượng thận mạn tính, cơ thể không thể tránh khỏi các biến chứng nhất định, ảnh hưởng đến hoạt động sống hằng ngày.
Dưới đây là các biến chứng suy tuyến thượng thận mạn thường gặp:

1. Cơn suy tuyến thượng thận cấp

Cơn suy thượng thận cấp là biến chứng nặng nề nhất của tình trạng suy tuyến thượng thận mạn tính. Đây là một bệnh lý cấp cứu của chuyên khoa nội tiết.
Khi tuyến thượng thận bị suy giảm chức năng cấp tính, nồng độ hormone được bài tiết ra đưa vào dòng tuần hoàn không đủ nhu cầu đáp ứng, các triệu chứng được quan sát thấy rất nổi bật như đột ngột trụy tim mạch, huyết áp tụt nhanh chóng, tay chân lạnh, mạch nhỏ, nhanh, khó bắt và kém đáp ứng với bù dịch và các thuốc vận mạch. Ngoài ra, người bệnh có thể kêu đau thượng vị, có khi kèm buồn nôn, nôn ói, chóng mặt, mệt lả, bủn rủn, vật vã, kích thích cho đến lẫn lộn, ngủ gà, lơ mơ và hôn mê.
Chẩn đoán bệnh thường dễ dàng do bệnh nhân đã có tiền căn suy thuyến thượng thận lâu dài trước đó hay có lạm dụng corticoid. Tuy nhiên, đôi khi việc xác chẩn cũng có thể gặp khó khăn nếu triệu chứng lâm sàng và sinh học không đặc hiệu, nhất là khi vào bệnh cảnh trụy tim mạch không rõ nguyên nhân. Lúc này, nếu chẩn đoán bị bỏ sót và điều trị không đầy đủ, người bệnh rất dễ nguy kịch đến tính mạng.
Tuyến thượng thận
Cơn suy thượng thận cấp là biến chứng nặng nề nhất của tình trạng suy tuyến thượng thận mạn tính

2. Huyết áp thấp

Huyết áp thấp là triệu chứng thường gặp, chiếm 90% trường hợp. Để nhận biết huyết áp thấp thì cần phải chú ý so sánh với huyết áp trước đó của người bệnh.
Người bị suy thượng thận mạn tính có thể bị huyết áp thấp kéo dài hay thường xuyên có các cơn tụt huyết áp theo tư thế. Cụ thể là những lúc thay đổi quá nhanh từ nằm sang ngồi, ngồi sang đứng, người bệnh sẽ có cảm giác đột ngột bị chóng mặt, hoa mắt, xây xẩm, choáng váng, buồn nôn – nôn. Đo huyết áp lúc này thấy thường thấp hơn bình thường từ trên 10 đến 20 mmHg. Nếu được ngồi hay nằm xuống trở lại, các triệu chứng này sẽ khá hơn, tình trạng huyết áp cũng sẽ cải thiện.
Nếu như người bệnh mắc các bệnh lý cấp tính như viêm phổi, viêm phế quảntiêu chảy cấp hay biến cố tim mạch cấp, đây sẽ là các yếu tố thúc đẩy khiến tình trạng huyết động trở nên nặng nề hơn. Huyết áp thấp trở thành huyết áp kẹt, tụt huyết áp, mạch yếu, khó bắt và sốc trụy tuần hoàn. Đây là các dấu hiệu báo động cho khả năng vào cơn suy thượng thận cấp như nêu trên.

3. Mệt mỏi mạn tính

Mệt mỏi là triệu chứng rất thường gặp và thường xuất hiện sớm nhất. Tuy nhiên, đặc điểm của mệt mỏi khá mơ hồ, lời khai của bệnh nhân không rõ ràng nên đôi khi lại dễ bị bỏ qua.
Khi thiếu cortisol, mọi chuyển hóa năng lượng bên trong tế bào đều sẽ bị trì trệ. Chính vì vậy, triệu chứng mệt mỏi, uể oải xuất hiện trên nhiều hoạt động các hệ cơ quan, cả về thể xác, tinh thần và sinh dục. Trong đó, đặc điểm điển hình của suy giảm sức sống do suy thượng thận mạn, giúp phân biệt bệnh lý tại các tạng khác là thường mệt xuất hiện vào buổi sáng, ngay lúc mới ngủ dậy. Cảm giác nặng nề này tăng dần khi đòi hỏi các việc phải gắng sức như vận động, đi bộ, leo cầu thang,… có khuynh hướng sẽ thuyên giảm hơn khi về buổi chiều. Điều này có cơ chế là tương xứng với chu trình bài tiết hormone tuyến thượng thận trong ngày, nồng độ cortisol máu cao nhất là vào 8 giờ sáng, sau đó giảm dần và giảm sâu nhất khi đi ngủ trong đêm.
Ở một số trường hợp, do cortisol sụt giảm sâu trong thời gian dài, người bệnh thậm chí chuyển sang trạng thái chậm chạp, lừ đừ, vô cảm và có khi không đi lại được hay tự làm các sinh hoạt cá nhân thường ngày.
Mệt mỏi
Mệt mỏi là triệu chứng rất thường gặp và thường xuất hiện sớm nhất

4. Gầy sút

Cortisol là một trong những hormone nền tảng của sự sống, tham gia vào quá trình chuyển hóa năng lượng, điều hòa nước – điện giải, giữ ổn định môi trường nội môi. Chính vì vậy, khi tuyến thượng thận suy yếu, cortisol không đủ sẽ khiến mọi hoạt động bên trong cơ thể bị trì trệ. Cơ thể trở nên gầy sút từ từ. Người bệnh bị sụt cân từ 2 đến 10 kg trong vài ngày đến vài tuần do mất nước vì mất muối ra ngoài qua đường nước tiểu.

5. Rối loạn tiêu hoá

Biến chứng gầy sút, suy nhược cơ thể do suy tuyến thượng thận mạn tính còn do chức năng của hệ tiêu hóa không còn được đảm bảo. Người bệnh thường xuyên có tình trạng đau bụng âm ỉ, mơ hồ, không có vị trí khu trú, đôi khi dễ nhầm với bệnh lý ngoại khoa cấp.
Ngoài ra, tác dụng phụ khi lạm dụng corticoid trên dạ dày – ruột khiến cho người bệnh biếng ăn, ăn kém, dễ bị đầy bụng, buồn nôn, nôn ói, tiêu chảy. Hệ quả của rối loạn nước – điện giải trên hệ tiêu hóa còn là giảm bài tiết dịch vị, các men tiêu hóa khiến người bệnh ăn không ngon miệng, chậm tiêu, bụng chướng. Tất cả những điều này càng khiến tổng trạng người bệnh suy kiệt thêm.

6. Tăng sắc tố da

Đặc điểm của sạm da trên các đối tượng này là vùng sạm màu không đồng đều, thường gặp trên vùng da hở thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và cả các vùng bị cọ sát với nếp gấp quần áo, vùng sẹo mới. Ngay cả các vùng da kín cũng bị ảnh hưởng như nếp gấp trong bàn tay, bàn chân, gối, ngón chân, khớp khuỷu hoặc cả ở đầu vú, bộ phận sinh dục ngoài cũng bị thâm đen.
Ngoài ra, nếu thăm khám và quan sát trên vùng da bán niêm mạc, niêm mạc cũng thấy các dấu hiệu tại má, lợi, sàn miệng, mặt trong má có những đốm màu đen.

7. Suy giảm chức năng sinh dục

Nồng độ cortisol trong máu giảm thấp cũng khiến cho khả năng sinh dục cơ thể bị ảnh hưởng. Ở nữ giới, người bệnh bị rối loạn kinh nguyệt, kinh thưa hay mất kinh, chu kỳ không phóng noãn, lãnh cảm, chậm có thai do suy chức năng buồng trứng kèm theo. Ở nam giới, người bệnh giảm ham muốn, rối loạn cương dương. Ngoài ra, các đặc tính sinh dục thứ phát ở người nam cũng suy yếu như lông thưa, râu ít, teo tinh hoàn.

8. Các biến chứng khác

  • Hạ đường huyết: Thường gặp ở trẻ em, ít gặp ở người lớn. Biến chứng này thường xảy ra khi người bệnh bỏ bữa hoặc quá bữa, sốt, nhiễm trùng hoặc khi nôn mửa, tiêu lỏng nhiều, đặc biệt trong cơn suy thượng thận cấp;
  • Rối loạn tâm thần kinh: Người bệnh bồn chồn, lãnh đạm hoặc lú lẫn, mất khả năng tập trung suy nghĩ, xen kẽ giai đoạn buồn ngủ, lơ mơ và trạng thái kích thích thần kinh, tăng động, vật vã;
  • Đau nhức xương khớp: Các bệnh lý thoái hóa xương khớp là căn nguyên thường gặp khiến người bệnh tự ý sử dụng các chế phẩm chứa corticoid. Khi lạm dụng một thời gian dài, nếu ngưng thuốc đột ngột, người bệnh bị đau khớp, đau cơ tăng lên, mệt lả toàn thân.

Tuyến thượng thận tham gia điều khiển mọi hoạt động sống trong cơ thể. Khi tuyến thượng thận suy yếu mạn tính, cortisol thiếu hụt trong máu, chức năng của các cơ quan đều bị trì trệ. Để đề phòng vấn đề này, cần tránh lạm dụng các chế phẩm từ cortioid, chỉ dùng thuốc đúng chỉ định, vừa bảo vệ sức khỏe, vừa các những tổn hại về lâu dài.

Addison (suy tuyến thượng thận nguyên phát): Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị

ĐỐI VỚI VIỆC ĐIỀU TRỊ BỆNH , QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ PHỤ THUỘC VÀO CÁC YẾU TỐ RẤT QUAN TRỌNG MÀ CÁC BỆNH NHÂN CẦN NẮM ĐƯỢC. NHÀ THUỐC ĐƯA RA QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ ( 4T )  ĐỂ BỆNH NHÂN THAM KHẢO VÀ TUÂN THEO.

  • Thứ nhất : Tinh thần bệnh nhân là quan trọng nhất, việc đảm bảo có tinh thần lạc quan, tin tưởng sẽ giúp người bệnh tiết ra những hocmon rất có lợi và nâng cao chất lượng điều trị
  • Thứ 2 : Thể thao , thể dục thể thao đóng vai trò quan trọng thứ 2 trong quá trình điệu trị, bệnh nhân nên thể dục nhẹ nhàng, đối với người bệnh suy thận việc đi bộ là phù hợp nhất giúp rút ngắn thời gian điều trị
  • Thứ 3 : Thức Ăn đóng vai trò nòng cốt, việc thực hiện tốt chế độ ăn giúp bệnh nhân cải thiện sức khoẻ, tăng cường tạo máu và nâng cao tỷ lệ điều trị tốt trong lâm sàng.
  • Thứ 4 : Thuốc là nhân tố nòng cốt trong điều trj bệnh nhưng cần kết hợp với những yếu tố trên. Nó thể hiện sự giao thoa giữa người thầy thuốc và người bệnh để hiểu nhau hơn, dễ chia sẻ và điều trị tốt nhất.
  • Các biện pháp điều trị bệnh Addison (suy tuyến thượng thận nguyên phát)

    Tùy thuộc vào tình trạng bệnh và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng mà có phương pháp điều trị bệnh khác nhau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sử dụng corticosteroid là phương pháp được sử dụng nhiều nhất. Thuốc corticosteroid có thể giúp kiểm soát các triệu chứng.
    Bên cạnh những phương pháp điều trị bệnh Addison theo chỉ dẫn của bác sĩ cần thực hiện và duy trì các thói quen và lối sống để có thể kiểm soát được mức độ của bệnh như: 

    • Tái khám đúng định kỳ;
    • Duy trì uống thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ;
    • Tham khảo ý kiến tư vấn của bác sĩ trước và sau khi phẫu thuật;
    • Giữ tinh thần luôn thoải mái;
    • Có lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng cân bằng hợp lý;
    • Tập thể dục nhưng không quá sức;

  Hiện tại Y học hiện đại đang chưa có phương pháp điều trị tối ưu cho bệnh nhân suy thận. Việc điều trị chi mang tính chất bảo tồn kéo dài thời gian. Hi vọng những chia sẻ về kiến thức và bài thuốc của chúng tôi sẽ giúp ích được cho nhiều bệnh nhân suy thận .
Việc điều trị bảo tồn của y học hiện đại là gì ?

  • Điều trị tây y hiện nay là dùng phương pháp bảo tồn, kéo dài thời gian mà thôi. Sử dụng đạm thận nhằm bảo vệ 1 phần các nephron. Giả sử khi bệnh nhân bị suy thận mạn, mỗi ngày bệnh nhân sẽ bị chết đi 1000 các nephron thì đạm thận sẽ có tác dụng giữ lại được 100 các nephron không bị chết đi trong 1000 nephron đó . Như vậy về cơ bản chỉ giúp bệnh nhân kéo dài được một thời gian rất ngắn chứ không có tác dụng điều trị.

 
ĐỪNG ĐÁNH ĐỒNG THUỐC NAM, BẮC ĐỀU CÓ HẠI CHO THẬN

  • Hiện nay có rất nhiều thông tin cho rằng bệnh thận mạn không nên dùng thuốc nam , thuốc đông y. Đây là một ý kiến rất quan lieu và không chính xác. Điều trị phục hồi thì đông y là một trong những phương pháp tối ưu nhất.
  • Tuy nhiên người bệnh cần chú ý tìm đến những cơ sở đông dược có uy tín. Hiện tại trên thị trường trôi nổi rất nhiều thuốc nam,bắc không rõ nguồn gốc xuất sứ. Các vị thuốc này có thể được nhập từ trung quốc và có lượng lớn chất bảo quản. Nếu bệnh nhân thận sử dụng các loại dược liệu này đúng là sẽ làm cho bệnh nhân gặp rất nhiều rủi ro.
  • Chúng tôi mong bệnh nhân chúng ta hãy là những bệnh nhân thông thái, tìm hiểu thật kỹ lưỡng các bài thuốc và các cơ sở khám chữa bệnh.

QUAN ĐIỂM SUY THẬN MẠN KHÔNG DÙNG THUỐC NAM BẮC LÀ KHÔNG CHÍNH XÁC. SUY THẬN MẠN KHÔNG DÙNG THUỐC NAM , THUỐC BẮC KHÔNG SẠCH, KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC. ĐÂY MỚI LÀ Ý KIẾN KHÁCH QUAN NHẤT.
     Mọi người có nhu cầu điều trị hay người nhà cần điều trị hãy để lại số điện thoại.
Các bác sĩ của nhà thuốc luôn sẵn sàng tư vấn miễn phí, hướng dẫn cụ thể các chế độ ăn , chế độ tập luyện, quy trình điều trị cho bệnh nhân trong mọi lúc mọi nơi.
Phòng Chẩn Trị Y Học Cổ Truyền Đào Đình Nhuận
Địa chỉ  : Thôn An Lạc 1 – Xã An Vinh –  Huyện Quỳnh Phụ – Thái Bình
Hotline : 19003223
Mọi người có nhu cầu điều trị hay người nhà cần điều trị hãy để lại số điện thoại. Phòng khám sẽ sớm liên lạc lại để tư vấn cho các bạn.
Kính chúc mọi người có nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống

Open this in UX Builder to add and edit content